Home > Nghiên cứu & Thảo luận > VariCAD 2010 vs AutoCAD Mechanical 2010

VariCAD 2010 vs AutoCAD Mechanical 2010

                Ở Việt Nam, những người làm công tác thiết kế cơ khí đều đã quá quen thuộc với AutoCAD nói riêng và những sản phẩm của AutoDesk nói chung. Đây là những phần mềm mạnh, đáp ứng được tất cả yêu cầu công việc nhưng có hai nhược điểm là cấu hình phần cứng yêu cầu ngày càng cao và giá không hề rẻ. Trước sức ép của cạnh tranh và luật bản quyền ngày càng nghiêm ngặt, các doanh nghiệp buộc phải tìm ra những giải pháp thích hợp để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển. Trên thực tế hầu hết các doanh nghiệp tại Việt Nam đều ở dạng vừa và nhỏ nên việc thay thế các sản phẩm của AutoDesk bằng các phần mềm nhỏ gọn có tính năng tương ứng với qui mô sản xuất là 1 hướng đi đúng trong việc giải quyết vấn đề nói trên. Bài viết sau đây giới thiệu VariCAD 2010, một phần mềm có đầy đủ tính năng cần thiết cho công việc thiết kế ở mức độ trung bình nhưng có yêu cầu cấu hình phần cứng thấp và giá chỉ bằng 1/6 so với AutoCAD Mechanical – phần mềm có cùng chức năng của hãng AutoDesk.

1.     Cấu hình yêu cầu

  • CPU : 2GHz hoặc cao hơn
  • RAM : 1GB (2GB cho bản 64bit)
  • HDD : 250MB
  • VGA : có hỗ trợ OpenGL
  • OS : Windows XP/Vista/7

Thử nghiệm trên laptop SONY VAIO VGN-NW250F (CPU Core2Duo 2.4Gz, RAM 4GB, VGA ATI 4570 512MB, HDD 320GB, Windows 7 Ultimate 64bit) VariCAD chỉ mất 4 giây để khởi động so với AutoCAD Mechanical 2010 là 60 giây

2.     Giao diện & môi trường làm việc

Theo mặc định, VariCAD dùng màu xanh dương nhạt làm màu nền nhưng cho phép người dùng thay đổi theo ý thích cá nhân. Và đến phiên bản 2010, VariCAD vẫn dùng các toolbar truyền thống chứ không chuyển sang dùng ribbon như một số phần mềm khác. Điểm hạn chế duy nhất về mặt giao diện là không cho phép người dùng lựa chọn hiển thị những icon thường dùng hoặc tạo ra những toolbar mới mà chỉ được phép bật/tắt những toolbar sẵn có của phần mềm.

Về môi trường làm việc, VariCAD có sự phân định rõ ràng giữa hai môi trường 2D và 3D và tại một thời điểm VariCAD chỉ làm việc với một môi trường duy nhất. Một số chức năng thiết kế trong hai môi trường được cho trong bảng 1

Môi trường 2D

Môi trường 3D

–       Công cụ vẽ, ghi kích thước hình học 2D-       Thư viện chi tiết máy 2D

–       Thư viện kí hiệu điện, thủy lực, khí nén

–       Tính toán, lựa chọn chi tiết máy

–       Trình  bày bản vẽ 2D, bảng kê vật liệu (BOM)

–       Công cụ thiết kế mô hình 3D-       Thư viện chi tiết máy 3D

–       Tính thể tích, khối lượng, momen quán tính

–       Kiểm tra sự tương giao khi lắp ghép

–       Quản lí bản vẽ

3.     Định dạng dữ liệu

VariCAD sử dụng duy nhất 1 định dạng file .dwb (*) cho tất cả các thiết kế.

–          Những thiết kế 2D được vẽ và trình bày trong môi trường 2D. Mỗi thiết kế được lưu thành 1 tập tin

–          Những thiết kế 3D có thể được phát triển từ những tiết diện vẽ trong môi trường 2D hoặc xây dựng trực tiếp trong môi trường 3D. Sau khi thiết kế xong người dùng có thể xuất ngược trở về bản vẽ 2D để quản lí và in ấn. Cả thiết kế 3D và bản vẽ 2D cũng đều nằm trong 1 tập tin duy nhất

–          Mô hình lắp ráp 3D được xây dựng bằng cách lắp ráp những chi tiết đã vẽ hoàn chỉnh trước đó hoặc vẽ thêm những chi tiết mới vào 1 chi tiết hiện hành. Nếu làm theo cách thứ hai, sau khi vẽ hoàn tất người dùng phải chọn và lưu những các chi tiết này thành từng file riêng biệt để việc quản lí và xuất ra bảng kê vật liệu (Bill of Material – BOM) được chính xác

(*) VariCAD còn định dạng .bkb và .sym nhưng đó là định dạng dùng cho block và kí hiệu trong các phiên bản trước

4.     Công cụ vẽ, thiết kế

Trong môi trường 2D, VariCAD có tất cả các công cụ cần thiết cho việc vẽ và thiết kế. Tuy nhiên nếu vẽ bằng phương pháp nhập tọa độ trực tiếp theo đúng kích thước cho trước sẽ rất chậm do thao tác nhập tọa độ và truy bắt điểm của VariCAD không thuận tiện như AutoCAD. Vì vậy người dùng nên sử dụng phương pháp vẽ bằng cách xây dựng những đường dựng hình (contruction line) trước rồi nối những giao điểm của những đường này lại để có tiết diện như yêu cầu.

Trong môi trường 3D, VariCAD cho phép người dùng xây dựng mô hình theo 2 cách : sử dụng những khối cơ sở (hình hộp chữ nhật, hình nón, hình cầu..) hoặc phát triển từ 1 tiết diện 2D theo những lệnh dựng hình : extrude, revolve, loft, coil… Ngoài ra VariCAD còn cung cấp các lệnh xử lí đặc tính hình học như chamfer, round, hole… để nâng cao năng suất làm việc.

Nhìn chung khả năng vẽ và thiết kế của VariCAD tương đối tốt. Nó có thể thay thế hoàn toàn AutoCAD khi làm việc với những bản vẽ 2D. Trong lĩnh vực thiết kế 3D, nếu yêu cầu chỉ ở dạng solid, VariCAD cũng hoàn toàn có thể thay thế được những phần mềm thiết kế 3D chuyên nghiệp như SolidWorks hay Inventor.

5.     Quản lí đối tượng thiết kế

VariCAD cũng dùng Layer để quản lí các đối tượng hình học nhưng có một số khác biệt so với AutoCAD như sau :

–          Có sẵn 7 layer với màu sắc và dạng nét dùng cho các loại đường thường dùng trong bản vẽ như đường cơ bản, đường khuất, đường tâm…

–          Người dùng có thể tạo thêm layer nhưng cũng bị giới hạn bởi 7 dạng nét và 9 kiểu màu do VariCAD cung cấp sẵn.

–          Không qui định độ dày của nét trong Layer (độ dày được qui định trong phần cấu hình in ấn)

–          Không cho phép 1 layer có 2 màu sắc hay kiểu nét (AutoCAD cho phép 1 layer có nhiều màu hoặc dạng nét khác với kiểu By layer)

Như vậy nếu so với AutoCAD, phần quản lí layer của VariCAD ít chức năng  và kém linh hoạt hơn, Tuy nhiên nó cũng là một ưu điểm nếu người dùng chỉ cần quản lí thiết kế ở mức độ trung bình với các công cụ đơn giản và gọn nhẹ. Đây chính là mục tiêu mà VariCAD hướng tới.

6.     Mức độ tham số hóa

VariCAD có mức độ tham số khá cao thể hiện qua những đặc điểm sau đây :

–          Người dùng có thể tạo ra những tham số, phương trình và gán chúng cho các thiết kế 3D

–          Những phần tử đã thiết kế có thể được thay đổi kích thước và ràng buộc hình học bất cứ lúc nào

–          Những thay đổi từ mô hình 3D sẽ được cập nhật sang bản vẽ 2D

Mặc dù vậy, tính năng tham số của VariCAD vẫn còn 2 khuyết điểm :

–          Không hỗ trợ khi thiết kế trong môi trường 2D

–          Không có bảng ghi tiến trình thiết kế nên khó xác định được trình tự thiết kế và định vị phần tử cần thay đổi

  1. No comments yet.
  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: